GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍN
MỘT SỐ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN
NÔNG NGHIỆP
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nông nghiệp dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong một thời gian nhất định (1 năm). Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bao gồm kết quả hoạt động của các ngành cấp II sau đây :
- Ngành trồng trọt;
- Ngành chăn nuôi;
- Các hoạt động dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp được tính theo phương pháp tổng mức chu chuyển, nghĩa là được tính trùng sản phẩm giữa ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm từng loại nhân với đơn giá từng loại sản phẩm đó rồi cộng chung toàn bộ giá trị của các loại sản phẩm. Đối với sản phẩm phụ chỉ tính những sản phẩm có thu hoạch và sử dụng. Chi phí cho quá trình sản xuất dở dang chỉ được tính chi phí cho những sản phẩm chưa thu hoạch cuối kỳ trừ đi đầu kỳ.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp hàng năm được tính theo hai loại giá: Giá thực tế và giá so sánh.
Các khái niệm về đất:
- Đất nông nghiệp: Là đất được sử dụng vào việc trồng trọt, chăn nuôi. Căn cứ vào mục đích và thực tế sử dụng được phân thành các loại sau:
+ Đất trồng cây lâu năm: Là loại đất được sử dụng vào việc trồng cây lâu năm như cây công nghiệp (cà phê, chè, tiêu . . .), cây ăn quả (cam, quít, vải nhãn . . .).
+ Đất canh tác (đất trồng cây hàng năm) là loại đất sử dụng trồng các loại cây hàng năm như: Cây lương thực (lúa, ngô. . .), cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, thuốc lá, bông. . .), các loại rau đậu, các loại cây làm thuốc, cây thức ăn gia súc, đất trồng cỏ. . .
- Đất lâm nghiệp: Gồm đất đã trồng và đất có khả năng trồng cây lâm nghiệp. Đất lâm nghiệp thường là đất đồi núi, có độ dốc từ 15 độ trở lên, đất cát và bãi bồi ven biển.
- Đất chuyên dùng: Là các loại đất được sử dụng vào các mục đích ngoài sản xuất nông, lâm nghiệp - Căn cứ vào mục đích sử dụng còn được phân chi tiết thành: Đất ở (thổ cư), đất xây dựng cơ bản, đất xây dựng công trình giao thông, nghĩa địa. . .
Các khái niệm về sử dụng đất:
Diện tích gieo trồng: Là diện tích canh tác trên đó thực tế có gieo trồng các loại cây nông nghiệp trong thời vụ gieo trồng nhằm thu hoạch sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người. Có các phương thức gieo trồng: trồng trần, trồng xen, gối vụ, lưu gốc. Diện tích gieo trồng hàng năm là diện tích thực tế gieo trồng của từng loại cây hàng năm, gồm: Cây lương thực ( lúa, ngô), rau màu, cây công nghiệp. . . Diện tích gieo cấy từng vụ được tính khi kết thúc thời vụ gieo cấy trên tất cả các loại đất ( khoán, đấu thầu, 5%, khai hoang. . .). Trường hợp phải gieo cấy lại nhiều lần trong một vụ (do thiên tai, dịch bệnh cũng chỉ được tính một lần diện tích gieo trồng).
Sản lượng lúa (còn gọi là sản lượng thóc đổ bồ): Được tính theo sản lượng lúa khô sạch đã thu hoạch của tất cả các vụ sản xuất trong năm (vụ đông xuân và vụ mùa).
Năng suất lúa của từng vụ: Là năng suất gieo cấy được tính bằng sản lượng lúa thu hoạch chia cho diện tích lúa gieo cấy (kể cả diện tích mất trắng, bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh vv . . .).
Sản lượng ngô: Được tính theo sản lượng hạt ngô khô sạch đã thu hoạch trong năm.
Sản lượng lương thực có hạt: Được tính bằng cách cộng giản đơn (không quy đổi) sản lượng thóc và sản lượng ngô.
Sản lượng khoai lang: Được tính theo sản lượng khoai củ tươi đã thu hoạch trong năm.
Sản lượng sắn: Được tính theo sản lượng sắn củ tươi được thu hoạch trong năm, bao gồm cả sắn trồng và thu hoạch trong năm và cả sắn lưu gốc từ các năm trước nhưng thu hoạch trong năm, không bao gồm sắn lưu gốc nhưng chưa thu hoạch trong năm.
LÂM NGHIỆP
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh do ngành lâm nghiệp tạo ra trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Nguyên tắc tính giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp:
Được tính vào giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp toàn bộ giá trị kết quả lao động hữu ích do ngành lâm nghiệp sáng tạo ra trong năm báo cáo, không tính những sản phẩm chất lượng kém, không đạt yêu cầu kỹ thuật.
Được tính vào giá trị sản xuất gồm có giá trị sản phẩm chính và giá trị sản phẩm phụ.
Được tính vào giá trị sản xuất giá trị sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất lâm nghiệp và được phép tính trùng một số yếu tố trong khâu tạo rừng như: Chi phí trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Chú ý: Giá trị sản xuất lâm nghiệp tính theo giá thực tế có thể không hoàn toàn bằng doanh thu hoặc toàn bộ chi phí phát sinh và chỉ được tính đối với công việc, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Giá trị sản xuất tính theo giá thực tế và giá so sánh.
THUỶ SẢN
Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Là diện tích ao, hồ, đầm, sông cụt, thùng đào vv . . . đang nuôi tôm, cá và các loại thuỷ sản khác.
Chú ý: Diện tích đất các loại hồ thuỷ lợi, thuỷ điện nếu có kết hợp nuôi tôm, cá và thuỷ sản khác không thống kê ở đây mà thống kê vào đất chuyên dùng.
Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà ngành thuỷ sản tạo ra trong một thời gian nhất định.
Các hoạt động thuộc ngành thuỷ sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản (không bao gồm mò và bắt thuỷ sản của nông dân) như cá, tôm, ba ba, ếch, lươn, trai lấy ngọc, rong, rau câu ( đặc sản ) . . .
Được tính vào giá trị sản xuất ngành thuỷ sản :
Doanh thu sản phẩm về đánh bắt và dịch vụ có liên quan trong năm.
Chi phí trong năm cho công việc ươm và nuôi trồng thuỷ sản.